Đánh giá về vai trò của khu công nghiệp và quy mô lao động (P.2)

Vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển quy mô nhân lực

Ngành công nghiệp, Khu công nghiệp, Quy mô lao động
Ảnh minh họa Quy mô lao động:
Chú thích (*) Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên điều chỉnh theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/4/2019.

Từ khóa: Ngành công nghiệp, Khu công nghiệp, Quy mô lao động

2.3. Đánh giá về vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển quy mô nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Sự phát triển khu công nghiệp góp phần tích cực vào việc thu hút lực lượng lao động ngành công nghiệp, làm tăng đội ngũ lao động công nghiệp, từ đó, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu lao động. Không chỉ làm tăng tỷ lệ lao động ngành công nghiệp, mà khu công nghiệp còn đóng góp tích cực vào tỷ lệ lao động trong các loại hình doanh nghiệp toàn thành phố, từ đó góp phần đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao động và đóng góp vào sự phát triển kinh tế − xã hội của thành phố. Để đánh giá vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển quy mô nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng, tác giả đã khảo sát ý kiến 364 người bao gồm công nhân lao động, nhà quản lý doanh nghiệp và cán bộ quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố Hải Phòng, và kết quả được trình bày tại Bảng 4.

Ghi chú: M1: ý kiến người lao động, M2 ý kiến nhà quản ý doanh nghiệp, M3 ý kiến cán bộ quản lý nhà nước về khu công nghiệp.

Qua ba chỉ tiêu đánh giá về tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển nhân lực ngành công nghiệp thành phố Hải Phòng cho thấy chỉ tiêu “mức độ thu hút lao động vào làm việc trong ngành công nghiệp làm tăng lực lượng lao động ngành công nghiệp” đạt mức khá với 3,63 điểm trung bình/5.

3. Những vấn đề đặt ra và khuyến nghị tăng cường vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng

3.1. Những vấn đề đặt ra về tăng cường vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Bên cạnh những tác động tích cực trên đây, các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng cũng đang đứng trước một số bất cập trong việc thực hiện vai trò của nó đối với sự phát triển quy mô, số lượng lao động ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố.

Thứ nhất, quy mô lao động thu hút vào các khu công nghiệp hiện nay còn thấp, do đó sự đóng góp về tăng quy mô lao động ngành công nghiệp của các khu công nghiệp còn hạn chế.

Theo tính toán của các nhà kinh tế, nếu 1 khu công nghiệp, khu chế xuất, có diện tích bình quân từ 100 – 150 ha khi lấp đầy sẽ sử dụng 15.000 – 18.000 lao động hay 1 ha có thể thu hút khoảng 10 – 15 lao động (Nguyễn Hữu Dũng, 2018). Với quy hoạch các khu công nghiệp của thành phố Hải Phòng là 23.723,94 ha, thì khả năng sẽ thu hút lao động vào làm việc khoảng 230.700 – 360.000 người. Trong khi đó, đến năm 2019, các khu kinh tế, khu công nghiệp của thành phố Hải Phòng mới thu hút được 141.868 lao động vào làm việc (Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng, 2019). Như vậy, mặc dù được đánh giá là việc thu hút lao động vào làm việc trong khu công nghiệp và do đó đóng góp cho lực lượng lao động ngành công nghiệp của thành phố đạt mức khá, nhưng số lượng lao động được thu hút vào các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng vẫn còn thấp, mới đạt khoảng 40% – 61% so với năng lực của nó.

Thứ hai, tình trạng việc làm của một bộ phận người lao động không ổn định.

Tình trạng không ổn định về công ăn việc làm của một bộ phận lao động được thể hiện trên những khía cạnh sau:

– Tình trạng dãn thải lao động khá lớn. Số liệu về dãn thải và thu hút lao động của các khu công nghiệp thành phố Hải Phỏng ở Bảng 5 cho thấy tình trạng việc làm của một bộ phận người lao động không ổn định. Theo đó, năm 2016, số lao động dãn thải là 18,97% còn thu hút là 23,56%, năm 2017 dãn thải là 14,87 % còn thu hút là 30,34% và năm 2018 dãn thải là 34,35% còn thu hút là 38,07%. Phân tích lý do lao động bị dãn thải trong ba năm cho thấy cụ thể như sau: i) Nghỉ hưu chiếm 0,16%; ii) Đơn phương chấm dứt hợp đồng chiếm 36,83 %; iii) Kỷ luật bị sa thải chiếm 1,03%; iv) Thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chiếm 44,28% và v) Các lý do khác là 17,7%.

Bảng 5: Tình hình dãn thải lao động 2016-2018

Trừ trường hợp nghỉ hưu và người lao động bị kỷ luật mà số này rất ít, chiếm gần 1,2% số lao động bị dãn thải, còn lại dù 98,8% số lao động bị dãn thải dù lý do gì, đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng thì vẫn dẫn đến những thiệt hại cho cả hai phía: người lao động và doanh nghiệp. Đối với người lao động vẫn ở vị thế bất lợi, bởi lẽ như thế họ phải tìm việc làm mới, lại bắt đầu công việc nghề nghiệp từ đầu, hưởng lương khởi điểm với mức thấp của thợ học việc,… Đối với doanh nghiệp, họ buộc phải tuyển lao động bổ sung, và như thế họ phải tăng thêm chi phí tuyển dụng, cho phí đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp cho người lao động và phải chấp nhận tình trạng năng suất lao động thấp trong thời gian lao động học việc,…

– Tỷ lệ lao động hợp đồng có thời hạn cao cũng làm cho tình trạng công ăn việc làm không ổn định. Theo tài liệu của Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng (2019) tỷ lệ lao động hợp đồng xác định thời hạn của các khu công nghiệp Hải Phòng năm 2015 là 45,06%, năm 2016 là 56,93%, năm 2017 là 61,19% và năm 2018 là 58,44%. Tình trạng lao động hợp đồng xác định thời hạn cao như thế có nghĩa là số lượng lao động ký hợp đồng ngắn hạn với doanh nghiệp là rất lớn. Điều này cũng giống như tình trạng tỷ lệ dãn thải lao động cao như đã nói, nó đều phản ánh một thực tế là tình trạng nghề nghiệp, công ăn việc làm của người lao động không ổn định.

– Tình trạng chuyển chỗ làm việc cũng khá nhiều. Số liệu điều tra, khảo sát từ 316 lao động ở 100 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2017 cho thấy có 60 lao động chuyển chỗ làm việc từ 1 đến ba lần, chiếm gần 19%. Trong đó, có 28 lao động chuyển chỗ làm việc một lần chiếm 46,67%, 24 lao động chuyển chỗ làm việc hai lần, chiếm 40% và 8 lao động đã chuyển chỗ ba lần chiếm tỷ lệ 13,33% (xem Bảng 6).

3.2. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của khu công nghiệp đối với việc tăng quy mô nhân lực ngành công nghiệp

Xuất phát từ thực trạng trên, để nâng cao vai trò của khu công nghiệp đối với tăng quy mô nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng những năm tới, cần chú ý đến các biện pháp thu hút lao động  cao như đã nói, nó đều phản ánh một thực tế là tình trạng nghề nghiệp, công ăn việc làm của người lao động không ổn định.
Trước hết, cần có biện pháp để tăng cường thu hút lao động vào làm việc tại các khu công nghiệp trên địa  bàn thành phố. Như đã nói, đến năm 2019, quy mô lao động làm việc trong các khu công nghiệp thành phố Hải Phòng là 141.868 người. So với khả năng thu hút lao động của 22 ngàn ha khu công nghiệp đã được quy hoạch, thì khả năng số lượng lao động được thu hút vào làm việc trong các khu công nghiệp còn rất lớn.
Theo tác giả dự kiến, để đến năm 2025 có thể thu hút được khoảng 250 ngàn lao động vào làm việc trong các khu công nghiệp (mức thấp theo tính toán của các nhà kinh tế) thì thành phố cần duy trì được tốc độ tăng lao động bình quân là 10%/năm. Với độ đó, thì năm 2020 các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng sẽ có 156.054 lao động, năm 2021 là 171.659 lao động, năm 2022 là 188.824 lao động, năm 2023 là 207.760 lao động, năm 2024 là 228.482 lao động và năm 2025 là 251.330 lao động. Chính vì thế, nhiệm vụ hàng đầu trong việc nâng cao vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển nhân lực ngành công nghiệp hiện nay trên địa bàn thành phố Hải Phòng là tập trung thu hút lao động vào làm việc tại khu công nghiệp.

Bảng 6: Tình hình chuyển chỗ làm việc

Số lượng (Người) Tỷ lệ (%)
1.Tổng số lao động trả lời 316 100,00
2. Số người chuyển chỗ làm việc 60 18,89
3. Đối với số lao động chuyển chỗ làm việc 60 100,00
3.1.Chuyển chỗ 1 lần 28 46,67
3.2.Chuyển 2 lần 24 40,00
3.3.Chuyển 3 lần 8 13,33

Nguồn: Phạm Minh Lộc (2017).

Thứ hai, bên cạnh việc tăng quy mô, vấn đề đặt ra là cần đảm bảo tính ổn định về công ăn việc làm cho đội ngũ lao động. Như đã nói hiện nay, công ăn việc làm của một bộ phận khá lớn lao động trong các khu công nghiệp còn chưa thật ổn định. Điều đó thể hiện ở tỷ lệ sa thải lao động hàng năm khá lớn; ở số lao động hợp đồng có thời hạn khá cao và tỷ lệ nhảy việc của người lao động trong các khu công nghiệp vẫn xảy ra thường xuyên. Tính thiếu ổn định như trên không những ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động cũng như gia tăng chi phí của doanh nghiệp, mà còn dẫn đến sự lãng phí nguồn lao động xã hội. Chính điều này làm giảm vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển đội ngũ lao động ngành công nghiệp của thành phố. Vì thế, để nâng cao vai trò khu công nghiệp đối với phát triển quy mô lao động ngành công nghiệp, cần tăng cường tính ổn định công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ dãn thải lao động hàng năm, tăng cường tỷ lệ lao động được ký hợp đồng lao động không thời hạn, giảm tối đa tình trạng chuyển chỗ làm việc của người lao động.

Thứ ba, chung tay giữa chính quyền và doanh nghiệp. Giải quyết hai vấn đề trên đây vừa là vấn đề có tính chất vĩ mô, vừa có tính chất vi mô, vì thế đó không chỉ là vấn đề riêng của chính quyền thành phố cũng không phải là vấn đề riêng của doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Nhất là trong bối cảnh các địa phương hiện đều đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp, dẫn đến sự cạnh tranh khá gay gắt về thu hút lao động vào làm việc tại các khu công nghiệp. Trong điều kiện đó, kinh nghiệm tại Bình Dương cho thấy để tuyển dụng được lao động vào làm việc cho các khu công nghiệp, lãnh đạo tỉnh, thành phố cần chủ động ký hợp đồng với các địa phương khác về nguồn cung lao động hàng năm. Đồng thời, để giữ chân người lao động, giảm việc dãn thải, các doanh nghiệp khu công nghiệp cần đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ lao động thoả đáng, sao cho lựa chọn đúng đối tượng, bố trí nơi làm việc đúng với năng lực của người lao động, đồng thời chú ý tới các chính sách khuyến khích về tiền lương, thu nhập, bố trí nơi ăn chốn ở, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động (Phan Tuấn Anh, 2015).

Như vậy, đòi hỏi sự chung tay cùng giải quyết của cả lãnh đạo thành phố và các chủ doanh nghiệp trong khu công nghiệp về bài toán thu hút và tăng quy mô lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn những năm tới.

Thực trạng của khu công nghiệp đối với biến đổi quy mô nhân lực ngành công nghiệp (P.1)

Tài liệu tham khảo:

(*) VAI TRÒ CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI VIỆC TĂNG QUY MÔ LAO ĐỘNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ
Mai Ngọc Cường, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Phạm Minh Lộc, Email: phamminhloc@yahoo.com
Từ khoá: Ngành công nghiệp, khu công nghiệp, quy mô lao động, thành phố Hải Phòng.
The role of industrial areas in increasing the labor scale of industry in Hai Phong city: Current situations and problems
Keywords: Industry, industrial area, labor scale, Hai Phong.

File tài liệu PDF: Tại đây

 

Bài viết cùng chuyên mục:

Mới nhất:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses cookies. By browsing this website, you agree to our use of cookies. Visit our Privacy Policy

Login  |   Register New

{ Xác nhận Ten/Mk: 123 để tiếp tục }

Login  |   Register New

{ Xác nhận Ten/Mk: 123 để tiếp tục }