Vai trò vốn xã hội, tiếp cận tín dụng và SMEs

Vay trò Vốn xã hội, tiếp cận tín dụng và SMEs

Vốn xã hội, tiếp cận tín dụng và SMEs
Vốn xã hội, tiếp cận tín dụng và SMEs

Bài nghiên cứu của chúng tôi bao gồm các phần như sau. Phần 2 tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về vấn đề vốn xã hội và tiếp cận tài chính của doanh nghiệp. Phần 3 trình bày về nguồn số liệu và phương pháp nghiên cứu. Kết quả thảo luận được trình bày trong phần 4. Cuối cùng, bài báo tóm tắt những phát hiện quan trọng dựa trên kết quả thực nghiệm qua đó đưa ra một số hàm ý chính sách.

2. Tổng quan nghiên cứu

Về mặt lý thuyết, mối quan hệ giữa vốn xã hội và tiếp cận tín dụng không được giải thích bởi duy nhất một luận điểm. Một mặt, Talavera & cộng sự (2012) chỉ ra rằng các doanh nhân dành nhiều thời gian hơn cho các mối quan hệ xã hội có nhiều khả năng nhận được các khoản vay từ các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, các doanh nghiệp là thành viên của các hiệp hội kinh doanh tác động tích cực đến việc tiếp cận vốn vay. Các nghiên cứu khác (ví dụ: Biggs & Sha, 2006; Aterido & cộng sự, 2013) cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là thành viên của các tổ chức đại diện như Phòng Thương mại có khả năng tiếp cận tài chính ngân hàng cao vì các tổ chức này có mối quan hệ chặt chẽ với chủ sở hữu doanh nghiệp nhỏ và vừa và nhận thức được các vấn đề và nhu cầu của các thành viên. Từ đó, các tổ chức này sẽ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được các khoản vay.

Tuy nhiên, Du & cộng sự (2010) thấy rằng vốn xã hội có liên quan tiêu cực với việc tiếp cận nguồn vốn vay dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc. Chua & cộng sự (2011) cho rằng hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với quy mô nhỏ và thiếu nguồn lực. Như một kết quả, để duy trì và kết nối các mối quan hệ có thể vượt quá khả năng của họ. Vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó khăn trong việc sử dụng vốn xã hội để có thể tiếp cận được các khoản vay.

Cho tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến tiếp cận tài chính ở Việt Nam (ví dụ như Le & cộng sự, 2006), nhưng các nghiên cứu đó mới chỉ xem xét đặc điểm của doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu, niềm tin. Tuy thế, vai trò của kết nối xã hội cũng là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng chính đến việc tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng đã bị bỏ ngỏ trong phần lớn trong các nghiên cứu trước đây. Do đó, nghiên cứu của chúng tôi được kỳ vọng là giữa những nghiên cứu đầu tiên  sử dụng phân tích kinh tế lượng vi mô với dữ liệu mảng từ các cuộc khảo sát doanh nghiệp để kiểm tra các đặc điểm của các ngân hàng và vốn xã hội đến tiếp cận tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thêm nữa, nghiên cứu sử dụng các thước đo khác nhau để đo lường các khía cạnh của vốn xã hội. Các phát hiện mới được kỳ vọng sẽ cung cấp những cơ sở định lượng khoa học cho các nhà làm chính sách trong quá trình xây dựng các chính sách để tạo điều kiện và môi trường cải thiện vốn xã hội của chủ doanh nghiệp, từ đó nâng cao khả năng tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

3. Nguồn số liệu và phương pháp luận

3.1. Nguồn dữ liệu

Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được trích xuất từ bốn cuộc điều tra của các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ trong năm 2009, 2011, 2013 và 2015. Bộ dữ liệu này được Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) phối hợp với Viện Kinh tế Trung ương Quản lý (CIEM) và trường đại học Copenhagen, Đan Mạch thực hiện tại các thời điểm khác nhau.

Bộ dữ liệu có một số ưu điểm như sau: Đầu tiên, như đã thảo luận ở trên, đây là một tập dữ liệu mảng của các SME sản xuất tư nhân bao gồm tất cả các lĩnh vực sản xuất chính, đó là chế biến thực phẩm, sản phẩm gỗ, sản phẩm kim loại chế tạo và các ngành khác. Thứ hai, các cuộc điều tra này đại diện cho các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Thứ ba, tập dữ liệu chứa thông tin chính về đặc điểm của doanh nghiệp, số lượng

Bảng 1: Thống kê mô tả của các biến chính trong mô hình như sau

Nguồn: Tính toán của tác giả.

công nhân, tiếp cận tín dụng và các thước đo về vốn xã hội. Điều này làm cho có thể kiểm tra vai trò của vốn xã hội đến tiếp cận tài chính của doanh nghiệp.

Đối với dữ liệu thay đổi theo thời gian, một trong vấn đề chính là chúng thường được thể hiện theo giá hiện hành. Do đó, dữ liệu của chúng tôi về các biến kinh tế được giảm phát bằng cách sử dụng chỉ số giảm phát GDP năm 1994 để tránh kết quả có thể bị chệch do lạm phát. Thống kê mô tả của các biến trong mô hình được thể hiện trong Bảng 1.

3.2. Phương pháp luận

Để đánh giá ảnh hưởng của vốn xã hội đến tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, theo các nghiên cứu trước đây (ví dụ: Hansen & cộng sự, 2009). Nghiên cứu sử dụng mô hình dưới dạng thu gọn như sau:

Yit  b0 + b1 * Xit b2 *Zit b3 *VXHit  +eit (1)

Trong đó Y  đo lường khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp (tiếp cận tín dụng chính thức và  phi

chính thức). Trong số các biến độc lập, Xit là một vector phản ánh các đặc điểm của doanh nghiệp. Bước đầu, các mô hình bao gồm quy mô doanh nghiệp và tuổi của doanh nghiệp vì chúng có thể đại diện cho sự khác biệt về hiệu quả giữa các doanh nghiệp (Jovanovic, 1982). Thực tế cho thấy các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn.

Kế thừa từ các nghiên cứu trước đó, trong nghiên cứu này, Zit là vector bao gồm các đặc điểm khác của doanh nghiệp như hình thức sở hữu có thể là một yếu tố quan trọng cho khả năng tồn tại và tăng trưởng của doanh nghiệp (Shiferaw, 2009). Biến số quan tâm trong nghiên cứu cũng bao gồm các đặc điểm ngành nghề hoạt động. Các ngành khác nhau có sự khác biệt trong công nghệ sản xuất, nhu cầu của khách hàng và thị trường tập trung, do đó, đặc điểm ngành hoạt động có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp khác nhau. Nghiên cứu này có tính đến những đặc điểm này bằng cách sử dụng các biến giả trong mô hình để so sánh với hiệu quả doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp công nghệ cao, trung bình và thấp. Sau cùng, các đặc điểm của chủ hoặc quản lý doanh nghiệp như giới tính, độ tuổi và vị trí công việc cũng được kiểm soát trong việc xem xét mối quan hệ giữa vốn xã hội và tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp.

Mục đích chính của nghiên cứu này là xem xét vai trò của vốn xã hội đến tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp. Tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp được đo lường như các biến giả, và do đó một cách tiếp cận phân tích nhị phân Logit hoặc Probit được sử dụng. Tuy nhiên, các mô hình này có thể không kiểm soát được các nhân tố không quan sát được trong mô hình. Vì vậy, để kiểm tra độ vững của kết quả chúng tôi sử dụng một số cách tiếp cận. Trước tiên, nghiên cứu sử dụng các chỉ định khác nhau, với chỉ định thu hẹp chỉ gồm những đặc điểm cá nhân của chủ doanh nghiệp. Tuy thế, trong chỉ định mở rộng, chúng tôi kiểm soát cả đặc điểm cá nhân của chủ doanh nghiệp và đặc điểm của doanh nghiệp đó. Thêm nữa, chúng tôi tiến hành ước lượng bằng sử dụng mô hình Probit với dữ liệu mảng nhằm kiểm soát sự khác biệt giữa các đặc tính cá nhân và không quan sát được bằng hiệu ứng ảnh hưởng ngẫu nhiên đối với dữ liệu mảng.

4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Bảng 2 trình bày kết quả mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng tiếp cận tài chính chính thức và phi chính thức của các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa ở Việt Nam. Ba biến số khác nhau của vốn xã hội được sử dụng bao gồm mối quan hệ với các cán bộ ngân hàng; mối quan hệ kinh doanh với các doanh nhân hoặc khách hàng, nhà cung cấp và thành viên của các hiệp hội kinh doanh; thứ ba là kết nối chính trị và được đo bằng việc người lãnh đạo doanh nghiệp có phải là đảng viên.

Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy vốn xã hội đóng vai trò quan trọng khác nhau đối với việc các doanh nhân Việt Nam tiếp cận với nguồn tài chính. Cột 1 của Bảng 2 chỉ ra mối quan hệ với các cán bộ ngân hàng hoặc các doanh nhân khác cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp đối với các nguồn vốn vay chính thức từ ngân hàng. Cụ thể, cột 1 báo cáo kết quả về sự sẵn có của khoản vay từ bất kỳ ngân hàng nào. Như kỳ vọng, vốn xã hội có tác động tích cực và có ý nghĩa và có ý nghĩa thống kê.Những doanh nghiệp có mối quan hệ với các lãnh đạo và quản lý ngân hàng giúp doanh nghiêp tăng khả năng cho vay thêm 5% so với các doanh nghiệp không có mối quan hệ.

Bảng 2: Ảnh hưởng của mối quan hệ đến tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp

Chú ý: Những doanh nghiệp công nghệ cao là biến cơ sở, Mô hình cũng kiểm soát biến giả năm. Sai số chuẩn trong dấu ngoặc đơn; Ý nghĩa thống kê ở mức 10% (*), ở mức 5% (**) và ở mức 1% (***).

Nguồn: Tính toán của tác giả.

Bảng 3: Ảnh hưởng của vốn xã hội đến tiếp cận tài chính của doanh nghiệp

Chú ý: Những doanh nghiệp công nghệ cao là biến cơ sở, Mô hình cũng kiểm soát biến giả năm. Sai số chuẩn trong dấu ngoặc đơn; Ý nghĩa thống kê ở mức 10% (*), ở mức 5% (**) và ở mức 1% (***).

Nguồn: Tính toán của tác giả.

Mặc dù vốn xã hội tốt hơn không đảm bảo khoản vay ngân hàng cho các công ty nhưng các mối quan hệ với các quan chức chính phủ và những người kinh doanh khác có thể giúp các công ty có được thời hạn vay dài hơn. Nói cách khác, chúng tôi tìm thấy vai trò của vốn xã hội trong việc tiếp cận tài chính của doanh nghiệp. Vốn xã hội tốt hơn có thể hỗ trợ các hoạt động kinh doanh làm giảm các tiếp cận tài chính. Điều này có thể bắt nguồn sự bất cân xứng thông tin, và vì vậy các ngân hàng và tổ chức tín dụng có xu hướng tìm kiếm thêm thông tin về các doanh nghiệp thông qua các mạng lưới và mối quan hệ xã hội. Do đó, mối quan hệ xã hội tốt hơn có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được tiếp cận các khoản vay (Tenev & cộng sự, 2003)

Một phát hiện thú vị khác là tác động tích cực và có ý nghĩa mạnh mẽ của quy mô các công ty, được đo lường bằng số lượng nhân viên, về khả năng có được tiếp cận các khoản vay. Dữ liệu cho thấy các công ty lớn hơn gặp ít trở ngại hơn khi tìm kiếm tài trợ bên ngoài. Kết quả này phù hợp với Schiffer & Weder (2001), những người nhận thấy rằng các công ty lớn hơn báo cáo những trở ngại tài chính thấp hơn. Những trở ngại tài chính cao hơn mà các doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt được quan sát thấy ở cả các nước phát triển và đang phát triển (Berger & Udell, 1998; Galindo & Schiantarelli, 2003), cũng xác nhận dự đoán lý thuyết (Beck & Demirgüç-Kunt, 2006). Thêm nữa, các doanh nghiệp ở thành thị có khả năng tiếp cận tín dụng chính thức cao hơn. Điều này có thể bắt nguồn từ lợi thế vị trí của doanh nghiệp nằm trong các vùng phát triển kinh tế, xã hội và lợi thế đó có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận tín dụng cao hơn các doanh nghiệp ở nông thôn.

Cuối cùng, ảnh hưởng của các đặc điểm của chủ doanh nghiệp đến tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp cũng được xem xét. Trong khi tuổi của chủ doanh nghiệp có mối quan hệ ngược chiều với tiếp cận tín dụng, giới tính của doanh nhân không đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định cho vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Đây là một phát hiện thú vị, vì Beck & Demirgüç-Kunt (2006) báo cáo rằng so với các đối tác do nam quản lý, các công ty do nữ quản lý ít có khả năng vay ngân hàng hơn. Ngoài ra, họ đề nghị các doanh nhân nữ được tính lãi suất cao hơn khi đơn xin vay được chấp thuận.

Bảng 3 trình bày một vài kịch bản về vai trò của vốn xã hội đến tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp. Mối quan hệ này được xem xét đối với loại hình sở hữu và tình trạng chính thức của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động vốn xã hội chỉ duy nhất ích lợi đối với các doanh nghiệp chính thức (tức doanh nghiệp có mã số thuế). Điều này có thể giải thích bởi sự thật rằng những doanh nghiệp duy trì tình trạng phi chính thức để có thể dễ dàng tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp, chẳng hạn như trốn thuế. Thêm nữa, việc thiếu sổ sách kế toán và các tài liệu cần thiết khác cũng cản trở các doanh nghiêp không chính thức có thể tiếp cận được tín dụng từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

5. Kết luận và hàm ý chính sách

Sử dụng mô hình kinh tế lượng vi mô với dữ liệu mảng của SMEs trong giai đoạn 2009-15, kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy vốn xã hội đóng vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với nguồn tài chính. Tuy thế, các loại mối quan hệ có vai trò khác nhau đối với việc tiếp cận các khoản vay từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các nguồn phi chính thức khác.

Thêm nữa, các chương trình tín dụng hiện tại với các điều khoản có lợi nhắm mục tiêu SMES được giới hạn ở một số ngành và tỉnh cụ thể. Do đó, các chương trình tín dụng nên được mở cho tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tất cả các lĩnh vực trong khi các khoản vay với các điều khoản có lợi (ví dụ: lãi suất thấp hơn hoặc thời gian đáo hạn dài hơn) có thể được gia hạn.

Dành nhiều thời gian hơn cho các mối quan hệ đặc biệt là các đối tác kinh doanh và các nhà quản lý ngân hàng là rất quan trọng để nhận được các khoản vay từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Các hiệp hội doanh nghiệp có thể hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân với các ứng dụng cho vay. Ví dụ, họ đề xuất các doanh nghiệp tốt cho các ngân hàng nhằm giảm tổn thất hiệu quả liên quan đến sự bất cân xứng thông tin. Những kết quả của nghiên cứu này dẫn đến hàm ý rằng các doanh nhân tư nhân không nên hài lòng với các mối quan hệ hiện tại mà nên khám phá, củng cố và nâng cao hơn nữa chất lượng của các mối quan hệ xã hội.

Tài liệu tham khảo

VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN NHỎ VÀ VỪA
Bùi Xuân Biên; Hoàng Trần Hậu; Nguyễn Thị Thúy Nga; Trần Thị Phương Dịu.
Từ khóa: Vốn xã hội, tiếp cận tín dụng, SMEs
The effect of social capital on credit access of private small and medium sized enterprises
Keywords: Social capital, credit access, SMEs.

File PDF tham khảo
4.9/5 - (14 bình chọn)

.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *